Tiền lương làm thêm giờ ở Việt Nam trông đơn giản (150%, 200%, 300%) cho đến khi có giờ ban đêm, ngày lễ và câu hỏi "chia cho bao nhiêu ngày?". Bài này đi qua cách tính cho người hưởng lương tháng, theo Bộ luật Lao động 2019 (Điều 98, 106, 107) và Nghị định 145/2020/NĐ-CP (Điều 55 đến 57), có từng bước. Quy định được kiểm tra đến ngày 14/10/2026 qua các trang cơ sở dữ liệu pháp luật; dự thảo sửa đổi Bộ luật Lao động có được thảo luận trong năm 2026 nhưng chưa có hiệu lực. Các bước này chạy sẵn trong công cụ tính lương làm thêm giờ. Đây là hướng dẫn theo mức tối thiểu của luật, không phải tư vấn pháp lý; hợp đồng hoặc thỏa ước có thể trả cao hơn.
Bước 1: tiền lương làm căn cứ
Làm thêm giờ được trả theo tiền lương thực trả theo công việc đang làm: lương trong hợp đồng cộng các phụ cấp gắn với công việc, chức danh. Nghị định 145 loại ra chính tiền làm thêm và làm đêm, tiền lương ngày lễ và ngày nghỉ có hưởng lương, tiền thưởng, và các khoản không gắn với công việc như tiền ăn, xăng xe, điện thoại, đi lại, nhà ở, nuôi con nhỏ, hỗ trợ hiếu hỉ. Lấy ví dụ chị Lan, lương theo công việc 10.400.000 ₫ mỗi tháng.
Bước 2: lương giờ
Lương giờ = lương tháng ÷ (số ngày làm việc bình thường × số giờ mỗi ngày).
Nghị định 145 chia cho số giờ làm việc bình thường thực tế, với số ngày không quá số ngày làm việc bình thường theo quy định của người sử dụng lao động. Nghị định không ghi con số 26. Công ty chị Lan làm 6 ngày/tuần, 8 giờ/ngày, nội quy dùng 26 ngày:
10.400.000 ÷ (26 × 8) = 10.400.000 ÷ 208 = 50.000 ₫/giờ.
Mẫu số rất quan trọng. Anh Minh lương 11.000.000 ₫ ở công ty làm 5 ngày/tuần, dùng 22 ngày: 11.000.000 ÷ 176 = 62.500 ₫/giờ. Nếu bảng lương chia 26 ngày thì chỉ còn 52.884,62 ₫, thấp hơn khoảng 15% cho mỗi giờ làm thêm. Hãy kiểm tra con số trong nội quy hoặc hợp đồng của công ty.
Bước 3: mức cho từng loại giờ
Điều 98 đặt mức tối thiểu; Điều 55 đến 57 Nghị định 145 chuyển thành công thức:
| Loại giờ | Mức | Căn cứ |
|---|---|---|
| Làm thêm ngày thường | 150% | Điểm a khoản 1 Điều 98 |
| Làm thêm ngày nghỉ hằng tuần | 200% | Điểm b khoản 1 Điều 98 |
| Làm thêm ngày lễ, Tết, ngày nghỉ có hưởng lương | 300% | Điểm c khoản 1 Điều 98, chưa kể lương ngày lễ |
| Làm việc ban đêm trong giờ bình thường | +30% | Khoản 2 Điều 98 |
| Làm thêm ban đêm ngày thường, chưa làm thêm ban ngày | 200% | 150% + 30% + 20% × 100% |
| Làm thêm ban đêm ngày thường, đã làm thêm ban ngày | 210% | 150% + 30% + 20% × 150% |
| Làm thêm ban đêm ngày nghỉ hằng tuần | 270% | 200% + 30% + 20% × 200% |
| Làm thêm ban đêm ngày lễ, Tết | 390% | 300% + 30% + 20% × 300% |
Ban đêm tính từ 22 giờ đến 6 giờ sáng hôm sau (Điều 106). Công thức làm thêm ban đêm tại Điều 57 gồm ba phần: mức làm thêm của ngày đó, 30% làm đêm, và 20% tiền lương giờ ban ngày của ngày đó. Ngày thường, lương giờ ban ngày là 100% nếu trước đó không làm thêm và 150% nếu đã làm thêm ban ngày; đó là khác biệt giữa 200% và 210%.
Bước 4: nhân lên
Tháng của chị Lan, với 50.000 ₫/giờ:
- 10 giờ làm thêm ngày thường sau giờ làm: 50.000 × 150% × 10 = 750.000 ₫.
- Chủ nhật (ngày nghỉ hằng tuần), 4 giờ ban ngày và 2 giờ ban đêm: 4 × 50.000 × 200% = 400.000 ₫, cộng 2 × 50.000 × 270% = 270.000 ₫. Tổng 670.000 ₫.
- Một ngày lễ, 8 giờ ban ngày và 3 giờ ban đêm: 8 × 150.000 = 1.200.000 ₫, cộng 3 × 50.000 × 390% = 585.000 ₫. Tổng 1.785.000 ₫. Vì chị Lan hưởng lương tháng, tiền lương của chính ngày lễ đã có trong lương; khoản này là trả thêm.
- Một ngày thường chị làm thêm 2 giờ đến 22 giờ rồi thêm 2 giờ nữa: 2 × 75.000 = 150.000 ₫ ban ngày, và 2 × 50.000 × 210% = 210.000 ₫ ban đêm. Nếu chỉ bắt đầu làm thêm từ 22 giờ mà không có phần ban ngày, 2 giờ đêm đó được 200.000 ₫.
Người làm ca đêm có giờ làm bình thường rơi vào 22 giờ đến 6 giờ được cộng 30% cho các giờ đó: 40 giờ như vậy với 50.000 ₫/giờ được thêm 600.000 ₫, và không tính là làm thêm.
Bước 5: kiểm tra giới hạn
Điều 107 chỉ cho làm thêm khi người lao động đồng ý và trong giới hạn:
- không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong ngày (nếu làm theo tuần, tổng cộng không quá 12 giờ/ngày);
- 40 giờ/tháng;
- 200 giờ/năm, hoặc 300 giờ/năm với các ngành, trường hợp tại khoản 3 Điều 107: sản xuất, gia công xuất khẩu hàng dệt, may, da, giày, điện, điện tử, chế biến nông, lâm, diêm nghiệp, thủy sản; sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu, cấp thoát nước; công việc cần lao động trình độ cao mà thị trường chưa cung ứng kịp; công việc cấp bách do tính thời vụ hoặc yếu tố khách quan.
Tháng của chị Lan (10 + 6 + 11 + 4 = 31 giờ làm thêm) nằm trong giới hạn 40 giờ. Một tháng 46 giờ thì không, dù trả bao nhiêu.
Những lỗi thường gặp
- Mặc định chia 26 ngày. Mẫu số là số ngày làm việc bình thường theo nội quy công ty. Làm 5 ngày/tuần mà chia 26 là trả thiếu mỗi giờ làm thêm.
- Tính sai phụ cấp, hoặc bỏ sót phụ cấp gắn với công việc lẽ ra thuộc căn cứ.
- Trả 300% ngày lễ "đã gồm" lương ngày lễ cho người hưởng lương ngày. 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, khoản này phải trả riêng.
- Tính mọi giờ làm thêm ban đêm 150%. Làm thêm ban đêm ngày thường ít nhất 200%, và 210% nếu đã làm thêm ban ngày.
- Coi giờ ca đêm là làm thêm. Giờ bình thường vào ban đêm được cộng 30%, không phải mức làm thêm, và không tính vào giới hạn.
- Coi mức tối thiểu là mức phải trả. Luật đặt mức sàn; hợp đồng có thể trả cao hơn.
Muốn biết làm thêm giờ ảnh hưởng thế nào đến lương thực nhận sau bảo hiểm và thuế thu nhập cá nhân, dùng công cụ tính lương gross sang net.