Tính BMI, BMR và nhu cầu calo mỗi ngày

BMI theo WHO và chuẩn châu Á, cân nặng hợp lý, BMR và calo mỗi ngày.

Đơn vị

BMI tính như nhau cho mọi người; chỉ phần ước tính calo dùng thông tin này.

Kết quả

Chỉ số khối cơ thể (BMI)

24,2

Phân loại người trưởng thành của WHO
Bình thường (18,5 đến 24,9)
Ngưỡng châu Á - Thái Bình Dương (WHO WPRO 2000)
Thừa cân, có nguy cơ (23 đến 24,9)
Cân nặng ứng với BMI bình thường ở chiều cao của bạn: WHO (18,5 đến 24,9)
53,5 đến 71,9 kg
Cân nặng ứng với BMI bình thường ở chiều cao của bạn: Châu Á - TBD (18,5 đến 22,9)
53,5 đến 66,1 kg
Chuyển hóa cơ bản (BMR)
1.618 kcal/ngày
Nhu cầu năng lượng mỗi ngày theo mức vận động
2.507 kcal/ngày

Nhu cầu năng lượng theo mức vận động

Công thức Mifflin-St Jeor: năng lượng tiêu hao khi nghỉ hoàn toàn.

Mức vận độngkcal mỗi ngày
Ít vận động: làm văn phòng, hầu như không tập (× 1,2)1.941
Nhẹ: tập 1 đến 3 ngày mỗi tuần (× 1,375)2.224
Vừa: tập 3 đến 5 ngày mỗi tuần (× 1,55)2.507
Nhiều: tập nặng 6 đến 7 ngày mỗi tuần (× 1,725)2.790
Rất nhiều: lao động chân tay hoặc tập hai buổi mỗi ngày (× 1,9)3.073

Chỉ là ước tính, không phải lời khuyên y khoa. BMI không đo lượng mỡ cơ thể và không dành cho trẻ em, phụ nữ mang thai hay người rất nhiều cơ bắp. Hãy trao đổi với nhân viên y tế về cân nặng của bạn.

Công cụ này làm gì

Công cụ tính chỉ số khối cơ thể (BMI) từ cân nặng và chiều cao, theo kg và cm hoặc pound, feet và inch, rồi cho biết BMI đó thuộc nhóm nào trong hai bảng: phân loại quốc tế cho người trưởng thành của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), và ngưỡng châu Á - Thái Bình Dương thấp hơn mà nhiều bác sĩ ở Việt Nam và khu vực đang dùng. Công cụ cũng cho biết khoảng cân nặng ứng với BMI bình thường ở chiều cao của bạn, mức chuyển hóa cơ bản (BMR, năng lượng cơ thể dùng khi nghỉ hoàn toàn) và ước tính nhu cầu năng lượng mỗi ngày theo năm mức vận động. Mọi phép tính chạy ngay trong trình duyệt.

Cách dùng

  1. Chọn hệ mét (kg, cm) hoặc hệ Anh (lb, ft và in). Khi đổi, số đã nhập được quy đổi theo.
  2. Nhập cân nặng và chiều cao. Có thể dùng dấu phẩy thập phân (70,5).
  3. Nhập tuổi và giới tính. Bản thân BMI không phụ thuộc hai thông tin này, nhưng phần ước tính calo thì có, và phân loại người lớn chỉ áp dụng từ 18 tuổi.
  4. Chọn mức vận động đúng với một tuần bình thường của bạn.

Cách tính

BMI bằng cân nặng (kg) chia cho bình phương chiều cao (m). 70 kg, cao 1,70 m: 70 ÷ 2,89 = 24,2. BMI hiển thị một chữ số thập phân và được phân loại theo đúng con số hiển thị.

Bảng WHO: dưới 18,5 thiếu cân; 18,5 đến 24,9 bình thường; 25 đến 29,9 thừa cân; 30 đến 34,9 béo phì độ I; 35 đến 39,9 độ II; từ 40 độ III.

Ngưỡng châu Á - Thái Bình Dương: báo cáo năm 2000 của Văn phòng WHO khu vực Tây Thái Bình Dương (cùng IASO và IOTF) đề xuất tạm thời rằng người trưởng thành trong khu vực được xem là thừa cân (có nguy cơ) từ 23 và béo phì từ 25, vì nguy cơ đái tháo đường type 2 và bệnh tim tăng ở mức BMI thấp hơn. Hội đồng chuyên gia WHO năm 2004 giữ bảng quốc tế nhưng bổ sung các mốc hành động 23; 27,5; 32,5 và 37,5.

BMR theo công thức Mifflin-St Jeor: 10 × kg + 6,25 × cm − 5 × tuổi, cộng 5 với nam hoặc trừ 161 với nữ. Nhu cầu năng lượng bằng BMR nhân hệ số vận động từ 1,2 đến 1,9.

Ví dụ

Nam 30 tuổi, nặng 70 kg, cao 170 cm có BMI 24,2: bình thường theo WHO, nhưng thừa cân, có nguy cơ theo ngưỡng châu Á vì đã vượt 23. Cân nặng hợp lý ở chiều cao này là 53,5 đến 71,9 kg (WHO) hoặc 53,5 đến 66,1 kg (châu Á). BMR là 1.618 kcal/ngày; nếu tập vừa phải, nhu cầu khoảng 2.507 kcal/ngày.

BMI không cho biết điều gì

BMI là con số sàng lọc, không đo mỡ cơ thể. Người nhiều cơ có thể có BMI cao mà ít mỡ. BMI người lớn không dùng cho trẻ em, phụ nữ mang thai hay vận động viên. Đây không phải lời khuyên y khoa; hãy trao đổi với nhân viên y tế. Xem thêm bài BMI cho biết gì và không cho biết gì, hoặc dùng công cụ chia hóa đơn khi đi ăn cùng bạn bè.

Câu hỏi thường gặp

BMI bao nhiêu là bình thường?

Theo WHO, người trưởng thành có BMI 18,5 đến 24,9 là bình thường. Theo ngưỡng châu Á - Thái Bình Dương, mức bình thường là 18,5 đến 22,9, còn 23 đến 24,9 là thừa cân, có nguy cơ.

Vì sao có hai bảng phân loại?

Nhiều nghiên cứu cho thấy người châu Á có nguy cơ đái tháo đường và bệnh tim cao hơn ở cùng mức BMI, nên báo cáo WHO khu vực Tây Thái Bình Dương năm 2000 đề xuất ngưỡng thấp hơn (23 và 25).

BMR và TDEE khác nhau thế nào?

BMR là năng lượng tiêu hao khi nghỉ hoàn toàn. TDEE là tổng năng lượng mỗi ngày khi tính cả đi lại và tập luyện, ước tính bằng BMR nhân hệ số vận động.

Dữ liệu của tôi có bị gửi đi không?

Không. Phép tính chạy trong trình duyệt, không có gì bạn nhập được gửi đi hay lưu lại.