Công cụ này làm gì
Nhập một biểu thức theo x và công cụ vẽ ngay đồ thị y = f(x). Bạn có thể vẽ cùng lúc tối đa năm hàm số, mỗi hàm có màu riêng và kiểu nét riêng (liền, gạch, chấm, gạch chấm, gạch dài), nên vẫn phân biệt được khi in đen trắng hay với người khó nhìn màu. Bên cạnh đồ thị là danh sách, trong phần trục x đang xem:
- nghiệm của từng hàm (nơi đồ thị cắt hoặc tiếp xúc trục hoành),
- giao điểm với trục tung f(0),
- điểm cực trị (cực đại, cực tiểu),
- giao điểm của từng cặp hàm số.
Ví dụ mặc định vẽ x^2 - 2 và x. Danh sách cho nghiệm x = −1.41421 và 1.41421 (tức ±√2), giao với trục tung và cực tiểu tại (0, −2), cùng hai giao điểm (−1, −1) và (2, 2), chính là nghiệm của x² − 2 = x.
Biểu thức được đọc bằng bộ phân tích riêng của công cụ và chuyển thành một cây phép tính nhỏ; văn bản bạn gõ không bao giờ được chạy như mã chương trình.
Biểu thức được hiểu thế nào
Quy tắc giống hệt máy tính khoa học, nên một biểu thức có cùng nghĩa ở cả hai trang:
- Lũy thừa làm trước phép nhân và nhóm từ phải sang:
2^3^2 là 2⁹ = 512. - Dấu trừ đứng đầu áp dụng sau lũy thừa:
-x^2 là −(x²), một parabol úp xuống. Viết (-x)^2 nếu muốn trường hợp kia. - Phép nhân ngầm là phép nhân thường:
2x, 3(x+1), x sin(x) và 2pi đều là nhân, tính từ trái sang cùng × và ÷. Vì vậy 1/2x là (1/2)·x, một đường thẳng; muốn hyperbol hãy viết 1/(2x). - Hàm cần dấu ngoặc (
sin(x), không phải sin x) và góc tính bằng radian: sin(x) bằng 0 tại 0, ±π ≈ ±3.14159, ±2π ≈ ±6.28319. x^(1/3) không xác định khi x âm, như mọi ngôn ngữ lập trình theo chuẩn IEEE 754; dùng cbrt(x) để lấy căn bậc ba thực.
Chỗ hàm không xác định, như sqrt(x) với x < 0 hay ln(x) tại 0, đồ thị chỉ đơn giản bị đứt.
Tiệm cận, bước nhảy và cách tìm các điểm
Đường cong được lấy mẫu mỗi cột điểm ảnh một lần. Giữa hai mẫu liền nhau, công cụ kiểm tra hàm thật sự tăng rất dốc hay nhảy bậc: nó chia đôi khoảng nhiều lần, độ chênh của đường liên tục sẽ nhỏ dần còn của bước nhảy thì không. Nhờ vậy tan(x) được vẽ thành các nhánh riêng, không có vạch đứng giả tại x = ±π/2, và floor(x) trông như bậc thang.
Nghiệm được tìm ở chỗ dấu thay đổi giữa hai mẫu, rồi chia đôi khoảng tới khoảng mười hai chữ số có nghĩa. Một lần đổi dấu qua tiệm cận (tan tại π/2) hay qua bước nhảy bị loại vì hàm không tiến gần 0 ở đó. Nghiệm mà đồ thị chỉ tiếp xúc trục hoành, như x = 1 của (x-1)^2, không có đổi dấu; nó được tìm như điểm mà |f| đạt cực tiểu bằng 0. Điểm cực trị được tinh chỉnh bằng cách tìm chỗ hệ số góc đổi dấu, nên cực tiểu của x² − 2 được báo đúng tại (0, −2) và hai cực trị của x^3 - 3x tại (−1, 2) và (1, −2).
Kết quả là tính bằng phương pháp số và chỉ trong vùng bạn đang thấy: hãy thu nhỏ để tìm thêm nghiệm, và lưu ý hai nghiệm gần nhau hơn một bước cỡ điểm ảnh có thể bị gộp làm một. Kết quả làm tròn sáu chữ số có nghĩa. Để giải chính xác cùng phương trình kèm từng bước, dùng công cụ giải phương trình; để học cách đọc nghiệm, giao điểm và tiệm cận, xem cách đọc đồ thị hàm số.