Âm lịch Việt Nam được tính như thế nào

Trăng mới, tiết khí, quy tắc tháng nhuận và vì sao Tết rơi từ 21/1 đến 20/2, kèm ngày tính sẵn và cái Tết năm 1985 đến sớm cả tháng.

Trong bài này

Tờ lịch treo tường nào ở Việt Nam cũng in hai ngày: ngày dương lịch chữ to và ngày âm lịch chữ nhỏ bên dưới. Tết, rằm, ngày giỗ và sinh nhật của nhiều gia đình đều theo con số nhỏ đó. Vậy mà ít người biết nó từ đâu ra, và những lời giải thích quen thuộc ("năm âm lịch có 354 ngày", "ba năm nhuận một lần") gần đúng đủ để nghe hợp lí nhưng sai đủ để cho ra ngày sai. Bài này đi qua các quy tắc thật sự, với những ngày được tính bằng công cụ đổi ngày âm dương, vốn cài đặt đúng các quy tắc đó.

Tháng: từ lần trăng mới này đến lần sau

Một tháng âm lịch bắt đầu vào ngày có điểm sóc (trăng mới), lúc Mặt Trăng nằm giữa Trái Đất và Mặt Trời nên không nhìn thấy được. Khoảng cách giữa hai lần sóc trung bình 29,53 ngày, nên tháng âm có 29 ngày (tháng thiếu) hoặc 30 ngày (tháng đủ). Thiếu hay đủ không theo một khuôn cố định mà tuỳ vào lúc điểm sóc kế tiếp rơi vào. Năm âm lịch 2026 các tháng dài lần lượt 30, 29, 30, 29, 29, 30, 29, 29, 30, 30, 30, 29 ngày. Có lúc hai tháng thiếu liền nhau, có lúc ba tháng đủ liền nhau.

Chi tiết quan trọng là ngày được xác định theo giờ Việt Nam, UTC+7. Điểm sóc của Tết 2026 vào khoảng 19:02 ngày 17/2 giờ Việt Nam, nên 17/2/2026 là mùng 1 Tết. Nếu điểm sóc rơi lúc 23:15 thì ngày đó vẫn là mùng 1; lúc 00:15 thì mùng 1 là ngày hôm sau.

Năm: neo vào ngày Đông chí

Mười hai tháng âm dài khoảng 354 ngày, ngắn hơn năm dương lịch mười một ngày. Nếu để mặc, Tết sẽ trôi qua đủ bốn mùa trong khoảng 33 năm. Lịch được giữ đúng mùa nhờ Mặt Trời:

  1. Tháng 11 âm lịch là tháng chứa ngày Đông chí (Mặt Trời ở kinh độ 270°, khoảng 21 hoặc 22/12).
  2. Đếm số lần sóc từ tháng 11 năm này đến tháng 11 năm sau. Thường có 12. Khi có 13, năm đó cần một tháng nhuận.
  3. Tháng nhuận là tháng đầu tiên sau tháng 11 mà trong đó Mặt Trời không đi vào một cung 30° mới, tức tháng không có trung khí. Nó lấy lại số của tháng liền trước.

Lấy năm 2025 làm ví dụ. Các tháng sau tháng 11 năm 2024 bắt đầu vào 31/12, 29/1 (Tết Ất Tỵ), 28/2, 29/3, 28/4, 27/5, 25/6 và 25/7. Trong tháng bắt đầu ngày 25/7, Mặt Trời ở yên trong cùng một cung 30° từ đầu đến cuối: nó tới 120° ngày 22/7, trước khi tháng bắt đầu, và tới 150° ngày 23/8, ngày đầu của tháng sau. Tháng đó vì thế không có trung khí và trở thành tháng 6 nhuận, một tháng Sáu thứ hai từ 25/7 đến 22/8/2025. Đó là lí do ngày 8/8/2025 là 15/6 nhuận năm Ất Tỵ, và mùa hè năm ấy có hai lần "Rằm tháng Sáu".

Tháng nhuận xuất hiện bảy lần trong mười chín năm, nhưng không phải cứ ba năm một lần. Các tháng nhuận gần đây và sắp tới, tính bằng cùng quy tắc: 2020 tháng 4, 2023 tháng 2, 2025 tháng 6, 2028 tháng 5, 2031 tháng 3, 2033 tháng 11.

Vì sao Tết dao động từ 21/1 đến 20/2

Vì tháng 11 chứa Đông chí nên tháng Giêng thường là lần sóc thứ hai sau Đông chí. Đông chí vào khoảng 21/12, một tháng dài 29,5 ngày, nên lần sóc thứ hai rơi vào khoảng từ 21/1 đến 20/2. Tính mọi năm từ 1800 đến 2199 cho đúng khoảng đó: Tết sớm nhất là 21/1 (ví dụ năm 1966 và 1985), muộn nhất là 20/2 (1833 và 1920). Trong trí nhớ của người đang sống, muộn nhất là 19/2, nên mới có câu "Tết không bao giờ trước 21/1 và sau 19/2".

Một số ngày Tết bạn có thể kiểm tra trong công cụ:

Năm âm lịchCan chiMùng 1 Tết
2024Giáp Thìn10/2/2024
2025Ất Tỵ29/1/2025
2026Bính Ngọ17/2/2026
2027Đinh Mùi6/2/2027
2028Mậu Thân26/1/2028

Tên can chi chạy theo chu kì 60 năm ghép mười thiên can (Giáp, Ất, Bính…) với mười hai địa chi (Tý, Sửu, Dần…), nên Giáp Thìn 2024 sẽ quay lại vào 2084. Con giáp Việt Nam dùng con mèo cho Mão, nơi Trung Quốc dùng con thỏ, và con trâu cho Sửu.

Việt Nam và Trung Quốc: lệch một giờ, có khi lệch một tháng

Âm lịch Trung Quốc theo cùng quy tắc nhưng ở UTC+8. Một giờ chênh lệch không ảnh hưởng gì, trừ khi điểm sóc hoặc Đông chí rơi vào giờ cuối cùng trước nửa đêm ở Việt Nam, lúc ở Bắc Kinh đã sang ngày hôm sau.

  • 2007: điểm sóc vào khoảng 23:15 ngày 17/2 giờ Việt Nam, 00:15 ngày 18/2 giờ Trung Quốc. Tết Đinh Hợi ở Việt Nam là 17/2, ở Trung Quốc là 18/2. Những nơi in lịch chép từ bảng của Trung Quốc đã in sai ngày, và năm đó không có "30 Tết".
  • 1985: Đông chí năm 1984 rơi vào khoảng 23:00 ngày 21/12 giờ Việt Nam, đã quá nửa đêm ở Trung Quốc. Điểm sóc rơi vào ngày 22/12. Ở Việt Nam, Đông chí vì vậy nằm trong tháng bắt đầu ngày 23/11, tháng ấy thành tháng 11; ở Trung Quốc nó nằm trong tháng bắt đầu 22/12. Cả năm của Việt Nam lùi sớm một tháng và Tết Ất Sửu rơi vào 21/1/1985, trong khi Trung Quốc đón Tết ngày 20/2. Sau đó Việt Nam có tháng 2 nhuận, từ 21/3 đến 19/4/1985, và hai lịch lại khớp nhau.
  • 1968: miền Bắc đã chuyển sang UTC+7 theo quyết định ngày 8/8/1967, miền Nam vẫn dùng UTC+8. Điểm sóc vào khoảng 23:29 ngày 29/1 ở miền Bắc, 00:29 ngày 30/1 ở miền Nam. Hai miền đón Tết Mậu Thân lệch nhau một ngày.
  • 2030 sẽ lặp lại chuyện 2007: điểm sóc rơi lúc 16:07 UTC ngày 2/2/2030, tức 23:07 giờ Việt Nam và đã sang ngày mới ở Trung Quốc. Tết sẽ là 2/2 ở Việt Nam và 3/2 ở Trung Quốc.

Ví dụ: sinh nhật âm lịch

Một người sinh ngày 15/5/1990 muốn biết năm 2026 nên tổ chức sinh nhật âm lịch vào ngày nào. Đổi 15/5/1990 dương lịch sang âm lịch được 21/4 năm Canh Ngọ. Đổi ngược 21/4/2026 âm lịch được 6/6/2026; năm 2027 cùng ngày âm đó là 26/5. Ngày dương lịch xê dịch tới cả tháng mỗi năm, và đó chính là bản chất của âm lịch.

Những lỗi hay gặp

  • Dùng ứng dụng lịch Trung Quốc. Nó đúng hầu hết các năm và sai đúng vào những ngày quan trọng, như 1985, 2007 và 2030 cho thấy. Hãy kiểm tra công cụ có nói rõ là tính theo UTC+7 hay không.
  • Cho rằng cứ ba năm nhuận một lần. Thực tế là bảy lần trong mười chín năm, và tháng nào nhuận phụ thuộc vào Mặt Trời chứ không theo bảng kiểu "lần này nhuận tháng 4".
  • Quên rằng tháng nhuận không có ngày giỗ riêng. Ngày giỗ rơi vào tháng nhuận thường được làm vào tháng thường cùng số trong những năm không có tháng nhuận đó. Hãy hỏi gia đình; lịch không quyết định thay bạn được.
  • Nhầm năm âm với năm dương. Người sinh ngày 20/1/2025 sinh vào năm âm lịch Giáp Thìn chứ không phải Ất Tỵ, vì Tết Ất Tỵ đến ngày 29/1.
  • Tin tuyệt đối vào ngày in trên lịch cũ. Trước 1967 ở miền Bắc và trước 1975 ở miền Nam, lịch Việt Nam dùng UTC+8, còn lịch triều đình thế kỉ 19 dùng phương pháp cũ hơn. Phép tính hiện đại có thể lệch một ngày với những năm đó.

Muốn thử bất kỳ ngày nào ở trên, hãy mở công cụ đổi ngày âm dương. Còn để tính tuổi chính xác theo năm, tháng, ngày dương lịch, dùng công cụ tính tuổi.

Công cụ được nhắc trong bài

Về trang blog